Quốc gia nào có bằng đại học đáng giá nhất?
[Nguồn: Why a university degree is worth more in some countries than others – 1843 Magazine – The Economist]
Học đại học có thể giúp bạn mở mang đầu óc. Nó cũng giúp làm dày túi tiền của bạn lên. Dữ liệu từ Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD – Organization for Economic Cooperation and Development), một tổ chức các quốc gia giàu có, chỉ ra rằng người tốt nghiệp đại học có thể có được một thu nhập tốt hơn so với những người không có bằng đại học.
Mức chênh lệch này có sự thay đổi giữa các quốc gia. Sự khác biệt lớn nhất có thể thấy ở Ireland, quốc gia có mức thu nhập bình quân GDP đầu người cao và có tốc độ gia tăng không đồng đều. Từ năm 2000 tỷ lệ thất nghiệp đối với người dưới 35 tuổi chỉ ở mức 8% đối với người có bằng cấp nhưng lại đến hơn 20% đối với người không có bằng đại học, và lên đến gần 40% đối với những người bỏ học từ cấp 2. Sự giàu có của quốc gia này đang tiến triển theo hướng không tương xứng giữa những công nhân và những người có học hàm học vị đi kèm tên.
Biểu đồ dưới đây cho thấy mức chênh lệch giữa thu nhập của một người có bằng đại học với người không có tại các quốc gia OECD - đơn vị tính bằng nghìn USD theo phương pháp ngang bằng sức mua PPP.
Mức thuế thu nhập thấp một phần giúp cho sự chênh lệch này. Những người có bằng đại học ở Ireland giữ được phần lớn thu nhập của họ, cũng giống như người Mỹ. Sinh viên ở Hoa Kỳ cũng có lợi từ việc thiếu lao động có kỹ năng (xem biểu đồ dưới). Tại Hoa Kỳ, cầu lao động thì rất lớn: việc sử dụng toán tại nơi làm việc cao hơn 10% so với mức bình quân của các nước OECD. Trong khi đó nguồn cung lại hạn chế bởi vì người Mỹ thường lại không giỏi toán. Người tốt nghiệp cao đẳng cũng đã có thể kiếm ra tiền.
Biểu đồ bên dưới cho thấy cung và cầu đối với lao động có kỹ năng toán học tại một số quốc gia OECD so với mức trung bình của OECD là 100.
Sinh viên ở các nước thuộc khối Đông Âu trước đây cũng có được lợi thế từ sự khan hiếm trên thị trường lao động, nhờ vào sự thiếu hụt có yếu tố lịch sử của giáo dục sau trung học phổ thông. Trung bình, một trong bốn người 55 tuổi trong các nước OECD có bằng cấp đại học. Trong khi đó tại Ba Lan, Slovakia và Cộng hòa Czech, tỷ lệ này là gần một trên bảy người. Dù vậy, cổng trường đại học đã được rộng mở: tỷ lệ người Ba Lan trong độ tuổi từ 25-34 có bằng đại học đã tăng gấp ba lần trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2012.
Sinh viên năm nhất tại vùng Bỉ - Hà Lan và các nước Bắc Âu thì lại không được vui vẻ khi ra trường bằng các nước khác. Lấy được bằng đại học tại các nước này mất nhiều thời gian, và do đó có nghĩa rằng họ mất thêm nhiều thời gian không kiếm được tiền lương. Dân chúng nói chung thường được trang bị trình độ giáo dục tốt và các loại thuế má lại cao. Mức gia tăng thu nhập khi có bằng đại học của người Na Uy thường chỉ bằng một nửa so với người Czech, và người Na Uy phải trả 50% cho ngân sách chính phủ.
Học đại học có thể giúp bạn mở mang đầu óc. Nó cũng giúp làm dày túi tiền của bạn lên. Dữ liệu từ Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD – Organization for Economic Cooperation and Development), một tổ chức các quốc gia giàu có, chỉ ra rằng người tốt nghiệp đại học có thể có được một thu nhập tốt hơn so với những người không có bằng đại học.
Mức chênh lệch này có sự thay đổi giữa các quốc gia. Sự khác biệt lớn nhất có thể thấy ở Ireland, quốc gia có mức thu nhập bình quân GDP đầu người cao và có tốc độ gia tăng không đồng đều. Từ năm 2000 tỷ lệ thất nghiệp đối với người dưới 35 tuổi chỉ ở mức 8% đối với người có bằng cấp nhưng lại đến hơn 20% đối với người không có bằng đại học, và lên đến gần 40% đối với những người bỏ học từ cấp 2. Sự giàu có của quốc gia này đang tiến triển theo hướng không tương xứng giữa những công nhân và những người có học hàm học vị đi kèm tên.
Biểu đồ dưới đây cho thấy mức chênh lệch giữa thu nhập của một người có bằng đại học với người không có tại các quốc gia OECD - đơn vị tính bằng nghìn USD theo phương pháp ngang bằng sức mua PPP.
Mức thuế thu nhập thấp một phần giúp cho sự chênh lệch này. Những người có bằng đại học ở Ireland giữ được phần lớn thu nhập của họ, cũng giống như người Mỹ. Sinh viên ở Hoa Kỳ cũng có lợi từ việc thiếu lao động có kỹ năng (xem biểu đồ dưới). Tại Hoa Kỳ, cầu lao động thì rất lớn: việc sử dụng toán tại nơi làm việc cao hơn 10% so với mức bình quân của các nước OECD. Trong khi đó nguồn cung lại hạn chế bởi vì người Mỹ thường lại không giỏi toán. Người tốt nghiệp cao đẳng cũng đã có thể kiếm ra tiền.
Biểu đồ bên dưới cho thấy cung và cầu đối với lao động có kỹ năng toán học tại một số quốc gia OECD so với mức trung bình của OECD là 100.
Sinh viên ở các nước thuộc khối Đông Âu trước đây cũng có được lợi thế từ sự khan hiếm trên thị trường lao động, nhờ vào sự thiếu hụt có yếu tố lịch sử của giáo dục sau trung học phổ thông. Trung bình, một trong bốn người 55 tuổi trong các nước OECD có bằng cấp đại học. Trong khi đó tại Ba Lan, Slovakia và Cộng hòa Czech, tỷ lệ này là gần một trên bảy người. Dù vậy, cổng trường đại học đã được rộng mở: tỷ lệ người Ba Lan trong độ tuổi từ 25-34 có bằng đại học đã tăng gấp ba lần trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2012.
Sinh viên năm nhất tại vùng Bỉ - Hà Lan và các nước Bắc Âu thì lại không được vui vẻ khi ra trường bằng các nước khác. Lấy được bằng đại học tại các nước này mất nhiều thời gian, và do đó có nghĩa rằng họ mất thêm nhiều thời gian không kiếm được tiền lương. Dân chúng nói chung thường được trang bị trình độ giáo dục tốt và các loại thuế má lại cao. Mức gia tăng thu nhập khi có bằng đại học của người Na Uy thường chỉ bằng một nửa so với người Czech, và người Na Uy phải trả 50% cho ngân sách chính phủ.


Comments
Post a Comment