Cuộc chiến giữa những con rồng: Tại sao Bắc Hàn không tin tưởng Trung Quốc
Hệ lụy của cuộc chiến Việt Trung tiếp tục đổ bóng lên mối quan hệ giữa Trung Quốc - Bắc Hàn
Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump và cựu Giám đốc chiến lược Nhà Trắng Stephen Bannon chỉ là những người mới nhất tán thưởng cách nhìn rằng Trung Quốc có quyền lực và ảnh hưởng để thuyết phục "sư đệ" của mình ngừng việc phô trương sức mạnh và khiêu khích hạt nhân. Thực tế, từ khi quân Trung Quốc vượt sông Áp Lục vào ngày 01 tháng Mười 1950 và tấn công lược lượng của Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc trên đất Bắc Hàn, nhiều nhà làm chính sách Hoa Kỳ đã nhìn vào Bắc Kinh như một thế lực ảnh hưởng ngầm của triều đại Kim và có thể xoay chuyển hành vi của triều đại này.
Thực vậy, bất chấp những bằng chứng rõ ràng rằng lãnh đạo hiện nay của Bắc Hàn, Kim Jong-un, có một mối quan hệ miễn cưỡng với ông hàng xóm lớn và tỏ ra phản kháng ra mặt với nhà lãnh đạo cộng sản ở Bắc Kinh cũng như cố ý giảm bớt ảnh hưởng của Trung Quốc đối với quốc gia mình, quốc gia "sư đệ" này vẫn tiếp tục ở trong vòng xoay của Bắc Kinh. Dù vậy, Bắc Hạn đang quyết tâm chống lại ảnh hưởng này do những ý thức sâu đậm trong lịch sử về sự thiếu tin cậy giữa hai quốc gia.
Đặc biệt, ảnh hưởng tiêu cực và hệ quả của cuộc chiến Việt Trung năm 1979 đối với cảm nhận của Bắc Hàn về Trung Quốc đã bị xói mòn. Việc Trung Quốc tấn công một đồng minh thân cận năm 1979 - quốc gia mà họ đã hỗ trợ kể từ cuộc chiến Đông Dương lần đầu những năm 1950 - đã ghi dấu ấn đậm ràng Bắc Kinh, bất chấp việc can thiệp vào chiến tranh Triều Tiên và ký kết hiệp định hữu nghị và tương hỗ Trung Quốc - Bắc Hàn năm 1961, vẫn không thể nào tin tưởng được.
QUAN HỆ TRUNG QUỐC - BẮC HÀN
Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Bắc Hàn trở nên tệ hơn sau sự thành lập của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (DPRK). Lãnh đạo đầu tiên của Bắc Hàn, Kim Il-sung (Kim Nhật Thành) lúc đó tin chắc rằng ông không cần đến sự giúp đỡ của Trung Quốc để thống nhất bán đảo Triều Tiên vào lúc bắt đầu cuộc chiến Triều Tiên năm 1950. Ông đối xử với những đại diện của Trung Quốc với sự khinh bỉ, thậm chí còn từ chối đề nghị của chuyên gia Trung Quốc để nghiên cứu trận điện trong trường hợp cuối cùng phải cần đến sự giúp đở của lực lượng quân đội Trung Quốc. Hành xử của Kim Il-sung một phần là do chính sự kiêu căng của ông cũng như mối quan hệ gần gủi với Liên Ban Xô Viết. (DPRK về bản chất là một vệ tinh của Xô Viết vào những năm cuối 1940s.) Dù vậy, Kim cũng che giấu sự nghi ngờ sâu sắc về chính quyền cộng sản mới ở Trung Quốc và tìm cách giảm thiểu vai trò của họ tại bán đảo Triều Tiên.
Lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông nhìn thấy Triều Tiên như một điểm mấu chốt của căng thẳng lớn hơn giữa phương Đông và phương Tây. Do sự giúp sức liên tục của Hoa Kỳ đối với Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan, Mao cảm thấy Trung Quốc đang ở trong một cuộc chiến không chính thức với Hòa Kỳ vào năm 1950. Do Trung Quốc vào thời điểm đó có không đủ lục lượng không quân cũng như đủ mạnh về hải quân để hỗ trợ cho việc xâm lược Đài Loan và thống nhất hoàn toàn Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của cộng sản, Mao lại đặc biệt nhìn thấy vùng núi non Bắc Triều như một trận địa nơi mà Quân đội giải phóng nhân dân có thể tỏ ra có lợi thế nhất định nhờ vào quân số để chống lại người Mỹ và cho thế giới thấy rằng Trung Quốc cũng là một cường quốc tương xứng.
Đối với Mao, Triều Tiên trước và trên hết chỉ là con tốt trong một trờ chơi quyền lực lớn hơn nhiền. Ông không quan tâm nhiều tới chính quyền Kim Il-sung. Như nhà sử học David Halberstam viết trong cuốn The Coldest Winter: America and the Korean War (Mùa đông lạnh giá nhất: Hoa Kỳ và cuộc chiến Triều Tiên), những gì người Trung Quốc làm ở Triều Tiên "bằng cách tham gia vào cuộc chiến, chịu thiệt hại nặng nề, nhưng đồng thời cũng dồn Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc vào thế bí - họ làm điều đó vì lý do riêng của họ, không phải vì tình yêu vĩ đại nào dành cho người dân Bắc Hàn. Sự tôn trọng của họ đối với người dân Triều Tiên và Kim tại thời điểm đó thực ra chẳng đáng là bao."
Tình hình đó gần như không thay đổi trong suốt phần còn lại của cuộc chiến Triều Tiên và thập niên 1950.
Trong thập niên 1960, mối quan hệ giữa DPRK và Trung Quốc lại càng đi xuống hơn nữa. Ngoài những việc khác, Đảng Lao động Triều Tiên (KWP) gọi cuộc Cách mạng văn hóa ở Trung Quốc là "cơn điên loạn" và xem Mao Trạch Đông là "một ông già điên hành động không còn suy nghĩ." Trung Quốc đến lượt họ lại buộc tội Bắc Hàn theo chủ nghĩa xét lại. Tình hình bất đồng này trong những thập kỷ tiếp theo, tiếp tục cho đến giai đoạn sau chiến tranh lạnh và kéo dài cho đến nay. Như nhà sử học Trung Quốc và chuyên gia về Bắc Hàn John Delury nói, "nếu có một từ có thể tóm tắt bức tranh trong lịch sử quan hệ 'đồng minh' của Bắc Hàn với Trung Quốc, đó chỉ có thể là từ 'phản bội'".
CUỘC CHIẾN GIỮA NHỮNG CON RỒNG
Trong khi cuộc chiến Việt Trung không hề có ảnh hưởng trực tiếp nào đối với Bắc Hàn cả về quân sự lẫn chính trị, nó lại minh họa cho Bình Nhưỡng thấy sự bất cân xứng vốn có trong mối quan hệ của Trung Quốc với những đồng minh nhỏ hơn và tính tàn nhẫn của Trung Quốc trong việc theo đuổi lợi ích quốc gia của riêng họ. Qua hơn hai thập kỷ từ 1950 đến 1975, Trung Quốc đã cung cấp cho Việt Nam hơn 20 tỷ USD hỗ trợ về kinh tế và quân sự. Họ cũng gửi các cố vấn chính trị và quân sự để giúp cho nỗ lực chống lại Pháp và sau đó là Hoa Kỳ. Trung Quốc cho hay đã gửi 320 ngàn quân qua Bắc Việt trong những năm 1960 và ước tính hơn 4 ngàn quân đã bị chết trong cuộc chiến. Những nghiên cứu mới đây cho rằng Trung Quốc, cũng như những gì họ đã làm ở Triều Tiên, có thể sẽ can thiệp bằng lực lượng quân đội quy ước nếu Hoa Kỳ tân công Bắc Việt.
Dù vậy, mối quan hệ Việt - Trung nhanh chóng xấu đi từ giữa những năm 1970s khi kết thúc chiến tranh Việt Nam. Việt Nam tham gia vào Ủy ban Hợp tác tương trợ kinh tế COMECON do Liên Xô dẫn đầu và ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô vào năm 1978, trong khi Trung Quốc và Liên Xô đang tranh giành quyết liệt vai trò lãnh đạo cộng sản ở Thế giới thứ ba. Bắc Kinh cảm thấy bị Hà Nội xem thường. Như nhà báo Nguyễn Minh Quang đã nói: "Trung Quốc xem hiệp định mà Việt Nam và Liên Xô ký kết là liên minh về quân sự và gọi Việt Nam là 'Cuba của phương Đông', đang theo đổi "giấc mơ tiểu bá" vùng Đông Nam Á." Do đó, Trung Quốc cảm thấy cần phải "dạy Việt Nam một bài học."
Trong chuyến thăm Hoa Kỳ vào tháng Một 1979, Phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình công khai nói với Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter về khả năng xảy ra hành động quân sự: "Thằng nhỏ (ám chỉ Việt Nam) đang trở nên hư, đây là lúc nó phải bị phét đít." Cảm giác bị phản bội sâu sắc của Trung Quốc thể hiện rõ qua nhận xét này. Bắc Kinh nghĩ rằng Hà Nội vô ơn trước những giúp đỡ và hy sinh của Trung Quốc trong cuộc chiến Việt Nam. Cùng lúc đó, Trung Quốc sợ sự bao vây của Liên Xô và họ muốn cho Việt Nam thấy rằng đồng minh mới Liên Xô sẽ không muốn hoặc không thể giúp đỡ Việt Nam trong một cuộc xung đột quân sự thực tế.
Lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình còn có những lý do nội tại trong quốc gia để tìm kiếm một cuộc xung đột quân sự vì một cuộc chiến như vậy với Việt Nam có thể loại bỏ những lãnh đạo theo chủ nghĩa Mao trong quân đội giải phóng nhân dân PLA. "Một số sử gia co rằng một cuộc chiến như vậy là cần thiết đối với kế hoạch hiện đại hóa của Đặng bằng cách làm rõ tính thiếu hiệu quả về mặt kỹ thuật của quân giải phóng PLA và giữ cho quân đội bận rộn," Nguyễn Minh Quang cũng nhận định thêm.
Đặng tập hợp lực lượng hơn 300.000 quân gần biên giới Việt - Trung đầu năm 1979 và chờ khi thời cơ đến để tấn công. Lấy cớ là việc Việt Nam đối xử tệ với người Hoa thiểu số, cũng như việc tấn công toàn diện Campuchia vào tháng Mười Hai 1978 và sau đó lật đổ chính quyền Khmer Đỏ do Trung Quốc Hậu thuẩn, vả thêm vào đó là việc Việt Nam chiếm giữ quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền. Trên thực tế, cuộc chiến này là "hành động trả thù," như nhận định của sử gia Trung Quốc Xiaoming Zhang trong cuốn sách "Cuộc chiến năm 1979 với Việt Nam: một đợt tái thử sức (China's 1979 War with Vietnam: A Reassessment).
Ngày 17 tháng Hai 1979, Trung Quốc bắt đầu tấn công, gọi đó là một cuộc "tấn công phòng vệ" chống lại "những kẻ hooligan ở châu Á" và "đuổi chó của Liên Xô," như chiến dịch tuyên truyền của Trung Quốc nhắm đến người Việt. Trong 30 ngày, quân giải phóng Trung Hoa đã đánh những trận đẫm máu nhất kể từ cuộc chiến Triều Tiên. Đến ngày 16 tháng Ba, Trung Quốc rút quân hoàn toàn khỏi lãnh thổ Việt Nam sau khi Bắc Kinh tuyên bố đã đạt được mục đích, trong đó bao gồm cả việc chiếm đóng được hai thành phố của Việt Nam. Kết quả của cuộc chiến: khoảng 22.000 đến 63.000 ngàn người Trung Quốc bị giết hoặc bị thương tại trận. Thiệt hại của Việt Nam ước tính khoảng 10.000. (Những cuộc gây hấn khu vực biên giới / căng thẳng tiếp tục kéo dài cho đến đầu những năm 1990.)
HỆ LỤY CỦA CUỘC CHIẾN VIỆT - TRUNG
Chiến tranh biên giới Việt - Trung để lại ấn tượng sâu sắc đối với những quốc gia láng giềng sát nách Trung Quốc tại Chậu Á và những bài học lớn từ đây là rất rõ ràng cho Bắc Hàn: Trung Quốc sẽ không ngần ngại từ bỏ một đồng minh hay ngần ngại trong việc sử dụng sức mạnh để đạt được lợi ích quốc gia của chính họ. Đúng như lời nhận định của Lord Palmerston rằng không có đồng minh hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích là vĩnh viễn, Trung Quốc chọn chiến tranh với một quốc gia họ đã hỗ trợ về kinh tế, quân sự và chính trị trong suốt hơn hai thập kỷ.
Giới lãnh đạo Bắc Hàn ban đầu nhìn thấy chiến thắng của Bắc Việt trước Hoa Kỳ và Miền Nam như một cơ hội chiến lược. Như John Delury nhận định: "Kim Il-sung theo một cách tự nhiên nhìn thấy sự thắng lợi của Việt Nam, với sự ganh tỵ, như một hình mẫu cho bán đảo Triều Tiên. Việc Hoa Kỳ rút quân và tháo chạy khỏi Sài Gòn năm 1975, xảy ra trong bối cảnh học thuyết Guam của Nixon sẽ giảm cam kết về quốc phòng của Hoa Kỳ tại khu vực châu Á, đưa đến một khởi đầu chiến lược cho Kim để tái gia tăng áp lực và thống nhất bán đảo dưới quyền của Bắc Hàn."
Thực vậy, Bắc Hàn như được cổ vũ bởi những gì thấy được qua cuộc chiến Đông Dương lần hai (giữa Việt Nam và Hoa Kỳ). Bình Nhưỡng cung cấp hỗ trợ kinh tế và quân sự đáng kể cho Việt Nam, bao gồm cả gửi một phi đội chiến đấu. Kim Il-sung được cho là đã nói với các phi công Bắc Hàn phải "chiến đấu như thể bầu trời Việt Nam là của chính chúng ta." Theo một số ước tính, khoảng hơn 200 phi công của Bắc Hàn đã chiến đấu trong cuộc chiến Việt - Mỹ. Hơn nữa, Bình Nhưỡng cũng đã gửi ít nhất hai trung đoàn pháo phòng không để bảo vệ Hà Nội. Và một số lượng chưa xác định được của lục quân Bắc Hàn cũng đã chiến đấu bên cạnh quân chính quy Bắc Việt. Đến nay vẫn không rõ bao nhiêu binh lính Bắc Hàn đã thiệt mạng trong cuộc chiến này.
Tuy nhiên, theo nhà sử học Shen Zhihua, khi Kim đến thăm Mao vào năm 1975, Chủ tịch Trung Quốc từ chối hỗ trợ lãnh tụ Bắc Hàn tái thống nhất bán đảo Triều Tiên. Thậm chí còn tệ hơn, khi Bắc Hàn sớm nhận ra rằng việc thống nhất không đảm bảo cho việc Trung Quốc không can thiệp và quyền của một đồng minh bề ngoài về một chính sách ngoại giao độc lập. "Hãy tưởng tượng sự giận dữ mà Kim cảm thấy khi ba năm sau Đặng viếng thăm Bình Nhưỡng ám chỉ Trung Quốc đang toan tính một cuộc chiến với Việt Nam thống nhất,' Delury nhấn mạnh.
"Tội lỗi của Việt Nam nằm ở đâu? Theo đuổi một chính sách ngoại giao độc lập ở Đông Nam Á và làm vậy với sự hỗ trợ của kẻ thù chính của Bắc Kinh là Liên Xô."
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng Bắc Hàn cũng theo nguyên tắc không liên kết trong hầu suốt những năm Chiến tranh lạnh. "Kim cũng muốn giữ mối liên hệ chặt chẽ với Moscow, từ chối đứng ở bên này hay bên kia trong tình trạng chia rẽ Nga - Trung. Nếu Trung Quốc có thể quay mặt và tấn công Việt Nam cộng sản thống nhất, vậy làm sao Bắc Hàn cộng sản có thể an toàn?," Delury nhận định. Sức nặng của câu hỏi này có lẽ vẫn chưa nhẹ bớt gánh nặng đối với Bắc Hàn từ năm 1979, và có vẽ như nó sẽ tiếp tục làm vướng bận tâm trí của các nhà làm chính sách Bình Nhưỡng đến nay khi lòng tin vào Bắc Kinh đang dần bị xói mòn.
[Nguồn: War of the Dragons_ Why North Korea Does Not Trust China _ The Diplomat
https://thediplomat.com/2017/09/war-of-the-dragons-why-north-korea-does-not-trust-china/]

Comments
Post a Comment